Thu hồi tài sản vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng

Chính phủ cho biết từ sau kỳ họp thứ tư của Quốc hội (cuối 2017) đến nay tình hình tội phạm được kiềm chế, một số loại tội phạm được kéo giảm, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Tuy nhiên, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chức vụ, tham nhũng đều tăng.

Báo cáo của Chính phủ cho biết, trong lĩnh vực này đã khởi tố điều tra 1.474 vụ, 2.161 bị can về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tăng 72,60% số vụ, 44,94% số bị can so với cùng kỳ năm 2017); 320 vụ, 659 bị can về tội tham nhũng và các vi phạm khác về chức vụ (tăng 32,23% số vụ, 13,23% số bị can so với cùng kỳ năm 2017).

Số vụ án về tham nhũng khởi tố mới tăng, chủ yếu là do các cơ quan chức năng đã quán triệt thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 50-CT/TW ngày 7/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, Chính phủ giải thích nguyên nhân.

Nhận định được nêu tại báo cáo là tội phạm kinh tế, tham nhũng vẫn tiềm ẩn nhiều phức tạp, xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, từ lĩnh vực kinh tế trọng điểm như ngân hàng, tài chính, đầu tư công, quản lý, sử dụng đất đai, giao thông, xây dựng cơ bản, thuế… đến các lĩnh vực an sinh xã hội như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội… gây dư luận bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Theo đánh giá của Chính phủ thì các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở trong cơ chế, chính sách để thông đồng tạo ra các “nhóm lợi ích” hoặc móc ngoặc giữa khu vực nhà nước và doanh nghiệp tạo “sân sau”… gây thiệt hại lớn tài sản của Nhà nước.

Ngoài ra, vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, nhất là đất nông nghiệp diễn biến phức tạp (thu hồi, đền bù, chuyển nhượng, san lấp, phân lô, xây dựng hạ tầng và nhà ở…), nhất là tại những nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh, giá nhà, đất biến động mạnh, tại khu vực có chủ trương phát triển kinh tế lớn (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc), một số doanh nghiệp Nhà nước được giao đất để thực hiện dự án nhưng đã chuyển nhượng trái phép cho doanh nghiệp tư nhân, gây thất thoát tài sản Nhà nước.

Vi phạm nữa là cấp phép dự án tràn lan nhưng nhiều dự án “treo” dẫn đến nhiều người dân mất đất, thất nghiệp, gây bức xúc, khiếu kiện đông người.

Lĩnh vực y tế thì các vi phạm chủ yếu là hành vi trục lợi bảo hiểm y tế với nhiều thủ đoạn khác nhau; thông đồng nâng khống giá thiết bị, giá thuốc điều trị trong đấu thầu để chiếm đoạt. Đáng lưu ý, phát hiện việc làm giả hồ sơ bệnh án tâm thần cho các đối tượng hình sự nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Minh chứng nhận định này, báo cáo nêu: tháng 8/2018, Công an Hà Nội đã phát hiện 78 hồ sơ bệnh án tâm thần được làm giả, trong số này có 41 hồ sơ của các đối tượng hình sự cộm cán. Đã khởi tố và bắt tạm giam 2 cán bộ, nhân viên y tế của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 để điều tra làm rõ.

Trong lĩnh vực thuế, Chính phủ cho biết, nổi lên vẫn là hành vi mua, bán hóa đơn giá trị gia tăng trái phép với thủ đoạn thuê người thành lập doanh nghiệp hay mua lại doanh nghiệp để bán hóa đơn giá trị gia tăng, chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, hợp thức hóa chứng từ cho các hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ, hàng lậu.

Tội phạm buôn lậu, sản xuất, mua bán hàng cấm, hàng giả diễn ra phức tạp, đối tượng lợi dụng kẽ hở trong cơ chế, chính sách tạm nhập, tái xuất, công tác quản lý thiếu chặt chẽ và sự tiếp tay của một số cán bộ thoái hóa, biến chất trong cơ quan chức năng để hoạt động buôn lậu, trốn thuế gây thiệt hại lớn… Chính phủ đánh giá.

Trong điều tra, xử lý tội phạm, cơ quan xây dựng báo cáo nhấn mạnh: riêng công tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế được đẩy mạnh với phương châm “làm từng bước vững chắc, kết luận điều tra từng phần, điều tra rõ đến đâu kết luận điều tra, chuyển hồ sơ đề nghị truy tố, xét xử đến đó, đảm bảo tiến độ theo yêu cầu, không để vụ án kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân. Những vấn đề phức tạp khác, cần có thời gian thu thập, củng cố tài liệu chứng cứ sẽ được tiếp tục điều tra mở rộng và đề nghị xử lý trong giai đoạn tiếp theo của các vụ án” có những chuyển biến tích cực, rõ nét, được coi là điểm sáng trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian gần đây. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình ủng hộ .

Điển hình như: Vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc);…

Công tác kê biên, thu hồi tài sản bị thiệt hại luôn được đặc biệt quan tâm, việc kê biên, thu hồi tài sản trong một số vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao.

Điển hình như: Vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỷ đồng;…

10 tháng, gần 28 tỷ USD vốn FDI rót vào Việt Nam

Theo số liệu mới nhất từ Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 10 tháng năm 2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 27,9 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, có 2.458 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký cấp mới 15 tỷ USD, bằng 92,2% so với cùng kỳ năm 2017. 954 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm 6,5 tỷ USD, bằng 90% so với cùng kỳ năm 2017.

Cũng trong 10 tháng năm 2018, cả nước có 5.342 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 6,3 tỷ USD, tăng 35,8% so với cùng kỳ 2017.

Tính đến ngày 20/10/2018, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân 15,1 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô đạt 143,4 tỷ USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm gần 72,2% kim ngạch xuất khẩu.

Xuất khẩu không kể dầu thô đạt 141,6 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ 2017 và chiếm 70,8% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu đạt 116,3 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2017 và chiếm 60% kim ngạch nhập khẩu.

Như vậy, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 27,1 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 25,2 tỷ USD không kể dầu thô.

Theo lĩnh vực, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đạt 13,2 tỷ USD, chiếm 47,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,7 tỷ USD, chiếm 20,4% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Đứng thứ ba là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,3 tỷ USD, chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Có 105 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư 7,6 tỷ USD, chiếm 27,5% tổng vốn đầu tư.

Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký 6,5 tỷ USD, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,9 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư.

Theo địa bàn đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố, trong đó Hà Nội thu hút nhiều vốn nhất với tổng số vốn đăng ký 6,15 tỷ USD, chiếm 22% tổng vốn đầu tư.

Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 4,6 tỷ USD, chiếm 16,5% tổng vốn đầu tư. Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ ba với tổng số vốn đăng ký 2,4 tỷ USD chiếm 8,8% tổng vốn đầu tư.

Chính phủ chưa bao giờ và không bao giờ có chủ trương phá giá đồng tiền!

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ là thành viên Chính phủ cuối cùng giải trình tại phiên họp Quốc hội chiều nay 27/10 về tình hình kinh tế – xã hội.

Về tình hình kinh tế nói chung, ông đã điểm lại nhiều chuyển biến tích cực, rõ rệt về chất lượng tăng trưởng. “Điều quan trọng là chúng ta đã đi đúng hướng”, Phó Thủ tướng cho biết.

Theo ông, Việt Nam đã tăng trưởng toàn diện ở cả 3 khu vực: nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ.

Cụ thể, nông nghiệp phát triển các mặt, cả về trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và lâm nghiệp. Thể hiện 1 cách rõ rệt và hiệu quả trong quá trình tái cơ cấu ngành.

Trong công nghiệp, ngành đã giảm dần sự phụ thuộc vào khai khoáng, nhất là với dầu thô và than đá. Công nghiệp chế biến chế tạo tăng với tốc độ nhanh, góp phần vào giữ động lực của tăng trưởng. Về dịch vụ cũng có sự phát triển ấn tượng, đặc biệt là về du lịch.

Tăng trưởng được Phó Thủ tướng nhận xét là không dựa vào đầu tư và xuất khẩu mà còn chú trọng thị trường trong nước. “3 năm qua, tổng mức kim ngạch bán lẻ hàng hoá trong nước đều tăng trên 2 con số, trên 10%. Năm nay tốc độ tăng cũng tương đương xuất khẩu khoảng 11,2%”, ông nói.

Bên cạnh đó, năng suất lao động, đóng góp của các nhân tố tổng hợp, hệ số ICOR… được cải thiện là những điểm sáng của nền kinh tế.

Dù vậy, nhìn thẳng vào bức tranh kinh tế, Phó Thủ tướng thẳng thắn thừa nhận: “chất lượng tăng trưởng có tiến bộ nhưng còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhiều yếu tố nếu không củng cố sẽ thiếu bền vững”.

Ông chỉ rõ chất lượng về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, Việt Nam còn gặp khó khăn đối với chỉ số đổi mới khoa học, công nghệ, năng suất lao động tuy tăng nhanh nhưng so với các nước còn thấp, nguy cơ tụt hậu trong bối cảnh 4.0 đang hiện hữu…

Vì vậy, ông cho biết Chính phủ trong các báo cáo luôn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng đã chỉ đạo chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động và tổ chức thực hiện chương trình này. Chính phủ cũng luôn yêu cầu tăng cường đổi mới sáng tạo. Theo đó, Thủ tướng đã đề nghị WEF hỗ trợ 1 trung tâm về đỏi mới sáng tạo trong thời gian tới…

Đối với vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, Phó Thủ tướng Huệ nhắc lại Việt Nam là nước có độ mở kinh tế lớn, dễ bị tổn thương trong bối cảnh bất định của căng thẳng thương mại, địa chính trị.

Bên cạnh đó, chính sách lãi suất của FED, giá USD tăng lên, nhiều nước cũng có chính sách giảm giá đồng tiền, lãi suất thế giới tăng cao cũng gây áp lực rất lớn đến điều hành nền kinh tế trong nước.

Do vậy, ông nhấn mạnh, Chính phủ từ đầu nhiệm kỳ đã luôn nhất quán kiểm soát lạm phát, đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đẩu, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

“Thời gian vừa rồi chúng ta đã kiểm soát tốt lạm phát dưới 4% trong 3 năm liên tiếp, giữ mặt bằng lãi suất, điều hành tỷ giá theo nguyên tắc thị trường có tính chất thận trọng hơn”, ông cho biết.

Theo ông, trong điều hành đã có sự kết hợp tốt giữa chính sách tài khoá, tiền tệ và ngoại thương.

“Chính phủ coi trọng vấn đề về kinh tế vĩ mô và trong tổng quát năm nay có một ý củng cố hơn nữa nền tảng kinh tế vĩ vô và tạo khả năng chống chịu của hệ thống tài chính ngân hàng cũng như hệ thống kinh tế của chúng ta trước biến động thế giới”, ông nhấn mạnh.

Trước sức ép lạm phát còn lớn, Phó Thủ tướng nhấn mạnh cần tăng tính độc lập tự chủ của nền kinh tế cơ cấu ngành lĩnh vực còn hạn chế.

“Đặc biệt Chính phủ nhất quán với chính sách ổn định giá trị đồng tiền”, ông nói và nhấn mạnh “Chính phủ, Thủ tướng chưa bao giờ và không bao giờ có chủ trương phá giá đồng tiền để hỗ trợ cho xuất khẩu”. Ngoài ra, Chính phủ cũng không nới lỏng về kiểm soát lạm phát như nhiều đại biểu lo ngại, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nói thêm.

Grab vừa “kêu cứu” Thủ tướng, Hiệp hội vận tải liền “kể tội” Grab

Ngay sau khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Grab có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, lập tức Phó chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam (VATA) Nguyễn Công Hùng cũng ký văn bản gửi Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình kiến nghị về những bất cập trong tờ trình Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Grab là DN kinh doanh vận tải taxi?

Trong văn bản này, đại diện VATA cho rằng taxi truyền thống không cố tình bảo thủ, không bằng mọi giá bảo vệ quyền lợi của riêng mình, mà rất muốn mọi việc phải thật sự khách quan, minh bạch, đúng pháp luật và hợp lý.

Do đó, VATA đề nghị cần xác định đúng loại hình và biện pháp quản lý đối với taxi, tránh đánh tráo khái niệm, cố tình ngụy biện xếp sai loại hình, gây bất bình đẳng vì lợi ích nhóm.

Ông Nguyễn Công Hùng cũng cho biết từ khi có Uber, Grab, các doanh nghiệp taxi truyền thống đã có những thay đổi nhanh để bắt kịp; thậm chí sáp nhập với nhau để tạo nên tổ chức lớn hàng ngàn phương tiện để nâng cao chất lượng và lợi ích cho khách hàng đồng thời tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.

Lãnh đạo VATA đánh giá Grab đã lợi dụng quyết định 24/QĐ-BGTVT để vi phạm pháp luật. “Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM đã chỉ ra Grab không đơn thuần là đơn vị cung cấp nền tảng kết nối cho đơn vị kinh doanh vận tải theo đề án thí điểm. Thực tế, Grab đã lợi dụng đề án thí điểm để điều hành trọn vẹn một quy trình kinh doanh vận tải taxi, tương tự Vinasun” – văn bản của VATA viết.

“Cụ thể, Grab tuyển tài xế, điều hành xe, chỉ định tài xế đón khách, quyết định giá cước và tăng giảm giá, thu tiền trực tiếp của khách vào tài khoản Grab; thực hiện chương trình khuyến mại có cả đi xe giá 0 đồng” – VATA nêu.

“Viện kiểm sát cho rằng đủ cơ sở xác định Grab là DN kinh doanh vận tải taxi. Đối chiếu các quy định của pháp luật, Grab đã vi phạm khoản 4, điều 17 Luật DN 2014 là “kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký DN và nội dung hồ sơ đăng ký, thay đổi nội dung đăng ký DN”- văn bản của VATA viện dẫn.

Trong văn bản của mình, VATA đã liệt kê hàng loạt bất bình đẳng, khi Grab không phải thực hiện, trong khi taxi truyền thống phải thực thi.

Grab tố dự thảo bảo hộ taxi truyền thống

Trước đó, ngày 25-10, trong công văn gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ông Lim Yen Hock, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Grab, cho biết cảm thấy hết sức bất ngờ và quan ngại với những nội dung và quy định trong Dự thảo mới nhất của Nghị định thay thế Nghị định 86 về kinh doanh vận tải vừa được Bộ GTVT tải trình Chính phủ vào đầu tháng 10, trong đó có việc xe ô tô có sức chứa từ 9 chỗ trở xuống sẽ không được áp dụng hợp đồng vận tải điện tử và tất cả các đơn vị cung cấp ứng dụng kết nối và giao kết hợp đồng điện tử sẽ buộc phải trở thành các đơn vị kinh doanh vận tải.

“Những quy định này không chỉ đi ngược lại chủ trương và chỉ đạo của Chính phủ về việc ứng dụng khoa học công nghệ và cải cách thủ tục hành chính, mà còn phủ nhận hoàn toàn những lợi ích và kết quả tích cực mà Đề án thí điểm xe hợp đồng ứng dụng hợp đồng điện tử đã mang lại cho người dân, doanh nghiệp và xã hội” – ông Lim Yen Hock bày tỏ.

Đại diện Grab cho rằng Dự thảo Nghị định vừa trình Chính phủ có phần bảo hộ taxi truyền thống để đồng hóa, hạn chế sự cải tiến kinh doanh của loại hình khác, doanh nghiệp khác, bỏ qua những ích lợi và sự tiến bộ quan trọng đối với xã hội và nền kinh tế, sẽ thực sự là bước lùi.

Đại diện phía Grab nhận định điều này sẽ trở thành một tiền lệ xấu, cũng như là dấu hiệu tiêu cực về môi trường khởi nghiệp, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. “Grab mong muốn Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam hãy công tâm xem xét, đánh giá”.

VATA đề nghị tổ chức một buổi đối thoại trực tiếp với tất cả các doanh nghiệp vận tải (cả Uber, Grab), các chuyên gia giao thông vận tải và lãnh đạo bộ, cơ quan tư pháp, nhằm làm rõ những nội dung cần phải chỉnh sửa, để tránh tình trạng “chạy chính sách”, vì lợi ích nhóm, gây lộn xộn, thiệt hại cho Nhà nước và xã hội.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thi hành kỷ luật ông Nguyễn Bắc Son

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 26-10 đã ký Quyết định số 1433/QĐ-TTg thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) nhiệm kỳ 2011 – 2016 đối với ông Nguyễn Bắc Son do đã có những vi phạm khi giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ TT-TT nhiệm kỳ này.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thi hành kỷ luật ông Nguyễn Bắc Son - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Bắc Son bị xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ TT-TT nhiệm kỳ 2011 – 2016

Trước đó, ngày 6-10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thi hành kỷ luật đối với ông Nguyễn Bắc Son tại Nghị quyết số 34-NQ/TW. Theo Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định “thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Bắc Son, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bằng hình thức: Cách chức Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XI và Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016”.

Trước đó, ngày 12-7, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết luận về trường hợp của ông Nguyễn Bắc Son trong thương vụ MobiFone mua 95% cổ phần của AVG.

Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương tại Tờ trình số 122, ngày 6-7-2018 về việc đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật ông Nguyễn Bắc Son, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban Cán sự Đảng (BCSĐ), nguyên bộ trưởng Bộ TT-TT nhiệm kỳ 2011 – 2016, Bộ Chính trị nhận thấy ông Nguyễn Bắc Son, nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên bí thư BCSĐ, nguyên bộ trưởng Bộ TT-TT, chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của BCSĐ nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Ông Nguyễn Bắc Son đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, không bàn bạc, thảo luận trong tập thể BCSĐ, trực tiếp chỉ đạo và quyết định nhiều nội dung liên quan đến dự án không đúng quy định; ký văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và giao cho cấp dưới ký một số văn bản liên quan đến dự án có nội dung trái quy định, không đúng nhiệm vụ được phân công; thiếu chỉ đạo, kiểm tra quá trình thực hiện dự án, để xảy ra nhiều vi phạm rất nghiêm trọng.

Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với ông Nguyễn Bắc Son theo thẩm quyền.

Ngày 22-10, trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa – Vũng Tàu), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của QH, xác nhận tại phiên họp trù bị sáng 22-10, Ủy ban Thường vụ QH, Trưởng Ban Công tác ĐB của Ủy ban Thường vụ QH Trần Văn Túy đã trình bày báo cáo về việc xử lý kỷ luật với ông Nguyễn Bắc Son , nguyên bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) trước QH.

Theo đó, tại phiên họp lần thứ 28 của Ủy ban Thường vụ QH (từ ngày 15 đến 17-10-2018), ông Nguyễn Bắc Son bị Ủy ban Thường vụ QH xóa tư cách nguyên bộ trưởng Bộ TT-TT nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Mỗi năm GDP bình quân đầu người Việt Nam chỉ tăng 150 USD

Bộ trưởng KHĐT Nguyễn Chí Dũng đã có giải trình, đánh giá về tình hình kinh tế – xã hội tại Nghị trường chiều nay, 27/10.

Theo Bộ trưởng, nền kinh tế đang phải đối mặt với 5 thách thức lớn, bao gồm chiền tranh thương mại, giá dầu, biến động tiền tệ, thách thức biến đổi khí hậu và khoảng cách phát triển.

Trước những diễn biến đó, trong nước, tuy tình hình chung cơ bản thuận lợi, phát triển theo đúng định hướng, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định nhưng vẫn còn nhiều mặt vấn đề phải bàn đến.

Đơn cử như thực trạng của GDP bình quân đầu người. Hiện GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới chỉ đạt 2.540 USD, trong khi mục tiêu đến năm 2020 phải đạt từ 3.200 – 3.500 USD.

“Mỗi năm chúng ta chỉ tăng 150 USD, 2 năm còn lại như vậy cần tăng 800 – 1.000 USD. Điều này là rất khó. Nhưng nếu không đạt được, khoảng cách tụt hậu sẽ kéo xa hơn”, Bộ trưởng nói.

Một vấn đề khác được Bộ trưởng đề cập đến là việc đất nước tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do. Ông nhấn mạnh cần có sự chuẩn bị tốt, nếu không chúng ta sẽ là người thua thiệt.

Bộ trưởng cho biết các kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô đã được xây dựng từ nay đến năm 2020 để nhận diện và có phương án đối phó kịp thời. Việt Nam theo đó một mặt cần khắc phục hạn chế của nền kinh tế, một mặt phải duy trì, củng cố vị thế đã đạt được.

Để làm được điều này, Bộ trưởng cho rằng cần phải thực hiện nhanh hơn nữa vấn đề tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng… đưa nền kinh tế tiếp tục đà tăng nhanh và bền vững, tránh bị tụt lại phía sau.

Hiện nay, sau 3 năm tái cơ cấu, Bộ trưởng đánh giá có 2 kết quả lạc quan. Thứ nhất là nền kinh tế đã đi đúng hướng. Thứ hai là thu về được các chuyển biến nổi bật, đặc biệt là nông nghiệp.

Tuy nhiên, Bộ trường nhìn nhận vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể, việc triển khai còn chậm, chưa tạo được sự thay đổi rõ nét trong nền kinh tế.

“Trong thời gian tới, phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, ngành, của toàn hệ thống chính trị. Chúng ta phải quyết liệt hơn”, ông nhấn mạnh.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng: Việt Nam có thể trở thành “vịnh tránh bão” trong cuộc chiến thương mại Mỹ

Phát biểu về diễn biến căng thẳng thương mại Mỹ – Trung và tác động đến Việt Nam, đại biểu Hà Sỹ Đồng, đoàn Quảng Trị, cho rằng với vị trí địa lý đặc biệt, nền kinh tế trong nước phụ thuộc nhiều vào 2 thị trường này.

Việt Nam theo đó có thể chịu sự rủi ro về thương mại, tiền tệ và dòng vốn. Tuy nhiên, trong nguy có cơ, Việt nam có thể nhận được nhiều hơn các đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ. Đồng thời, nền kinh tế trong nước cũng có thể đón một phần dòng vốn FDI đang rời khởi Trung Quốc để né thuế.

Điều này được ông ví von rằng Việt Nam có thể trở thành “vịnh tránh bão” trong cuộc chiến thay vì chỉ chịu tác động tiêu cực.

Thời điểm nhạy cảm này, theo ông Đồng, đòi hỏi các chính sách ngoại giao của Viẹt Nam phải hoá giải được tình thế lưỡng nan cũng như chớp được cơ hội, đồng thời, tránh hoặc giảm những rủi ro.

Do đó, vị đại biểu này cho rằng những động lực chính cho tăng trưởng kinh tế năm 2019 và các năm tiếp theo phải được làm rõ. Hiện gói chính sách kinh tế vĩ mô, tài khoá, tiền tệ dư địa còn ít.

Mặt khác, nền kinh tế phải trông chờ vào các chính sách, giải pháp từ phía tổng cung như cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Ông nhấn mạnh cần ưu tiên chính sách mới để thu hút đầu tư nước ngoài, cân đối nguồn lực để hỗ trợ khu vực tư nhân trong nước, tái cơ cầu nền kinh tế…

Ông cho rằng cần phải đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá đối tác thương mại, giảm sự phụ thuộc vào hai thị trường Mỹ – Trung.

“Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung không chỉ là câu chuyện của tranh chấp thương mại”, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh nhận xét. Theo ông, đây là tranh chấp vị trí địa chính trị, những vấn đề lớn, do vậy, dẫn đến nhiều hệ luỵ.

Bộ trưởng cho biết hiện Chính phủ, các Bộ, ngành rất quan tâm đến những diễn biến này và đều có các nghiên cứu, phối hợp và báo cáo thường xuyên để có sự điều chỉnh trong chính sách.

“Trong điều hành, chiến lược sắp tới đều có sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng để khai thác tốt cơ hội, hạn chế nguy cơ, tiêu cực từ cuộc chiến này”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Chính phủ lạc quan về tăng trưởng nhưng chưa tự tin về kiềm chế lạm phát

Chính phủ đã lạc quan về tình hình tăng trưởng kinh tế trong những năm tới

Phát biểu tại Nghị trường sáng nay, 27/10, đại biểu Vũ Tiến Lộc cho rằng Chính phủ, qua các báo cáo, dường như đang hơi quá lạc quan về tăng trưởng kinh tế trong những năm tới.

Theo ông, dù giai đoạn 2016 – 2018, nền kinh tế phát triển đầy khả quan với GDP trung bình ước đạt 6,57% nhưng việc đạt được tốc độ tăng trưởng từ 6,5 – 7% trong giai đoạn 2016 – 2020 là thách thức rất lớn.

Nguyên nhân Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất cao dẫn đến việc nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài. Trong bối cảnh Fed thắt chặt tiền tệ, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại cùng với những căng thẳng leo thang của các nền kinh tế lớn, ông Lộc đặt câu hỏi liệu xuất khẩu hay thu hút vốn đầu tư của Việt Nam có được đẩy mạnh? Bởi đây là 2 nhân tố, động lực chính của tăng trưởng trong nước.

Nhiều dự báo về tăng trưởng toàn cầu hay của Mỹ giai đoạn 2019 – 2020 đã bị điều chỉnh theo hướng giảm đi. Theo đó, ông Lộc nhận định xu hướng xuất khẩu, đầu tư của Việt Nam trong 3 năm tới sẽ không còn nhiều thuận lợi.

“Do vậy, khi xác định các mục tiêu như thu ngân sách, nợ công, chúng ta cần sự cẩn trọng, cân nhắc kỹ, không nên dựa vào tốc độ tăng GDP cao hơn 6,5%”, vị đại biểu này lưu ý.

Nên giữ lạm phát dưới 4%

Trong khi Chính phủ lạc quan về tăng trưởng, mục tiêu kiềm chế lạm phát dường như lại thiếu tự tin, theo nhận xét của ông Vũ Tiến Lộc.

Trong 3 năm qua, đặc biệt năm 2018, Chính phủ luôn giữ lạm phát dưới mức 4% bất chấp những biến động mạnh về giá dầu, thực phẩm… diễn ra đồng thời. Lạm phát thấp đã giúp cho mặt bằng giá cả, lãi suất, tỷ giá… được ổn định, kinh tế vĩ mô được đảm bảo.

Tuy nhiên, đến năm 2019, mục tiêu kiềm chế lạm phát được Chính phủ đề ra lại là khoảng 4%.

“Tôi không rõ Quốc hội đánh giá mục tiêu này thế nào. Ví dụ nếu lạm phát là 4,1 – 4,2% thì chấp nhận được nhưng lên 4,3 – 4,5% thì có coi là hoàn thành nhiệm vụ không?”, ông Lộc đặt câu hỏi.

Việc chuyển mục tiêu từ cứng, rõ ràng – tức dứoi 4% sang mục tiêu mềm, mơ hồ hơn – là khoảng 4% khiến ông Lộc cho rằng đây là “bước lùi trong hoạch định chính sách”.

Bởi khi Chính phủ không bị ràng buộc trong một mục tiêu cứng thì những động thái điều hành quản lý sẽ thiếu đi tính quyết liệt. Nếu Chính phủ bằng lòng với lạm phát trên 4% thì người dân có quyền đặt ra câu hỏi, liệu trong tương lai mục tiêu kiềm chế lạm phát có trở thành 5 – 6% hay nhà đầu tư có còn tin tưởng rằng ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, lâu dài của Chính phủ? Rồi lãi suất tỷ giá có té nước theo mưa?

“Tóm lại, khi thay đổi mục tiêu khống chế lạm phát từ dứoi 4% thành khoảng 4%, Chính phủ dường như đã rút khỏi cam kết vàng đang được người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư ủng hộ”, ông Vũ Tiến Lộc kết luận.

Áp lực dồn đẩy lạm phát sang năm 2019?

Phát biểu mở đầu phiên thảo luận tại Hội trường sáng nay (27/10) về phát triển kinh tế – xã hội, đại biểu Nguyễn Thanh Hải – Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang – nêu quan ngại về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI). “Ngân sách ít nhiều bị ảnh hưởng cân đối thu chi, áp lực dồn đẩy sang năm sau để kiềm chế lạm phát. Vì thế, Chính phủ cần có kế hoạch tốt”, ông Hải nói.

Áp lực dồn đẩy lạm phát sang năm 2019? - Ảnh 1.

Đại biểu Quốc hội lo áp lực kiềm chế lạm phát vào năm tới sẽ lớn. (Ảnh minh họa)

Đại biểu Nguyễn Thanh Hải chỉ rõ: Để kiểm soát mức lạm phát thấp hơn 4%, Chính phủ đã sử dụng một số giải pháp hành chính như hoãn tăng giá điện, kiềm chế giá xăng dầu. Sẽ có áp lực dồn đẩy sang năm 2019, nên Chính phủ cần có kế hoạch thật tốt kiểm soát lạm phát năm sau. 

Ông Nguyễn Thanh Hải đánh giá, tăng trưởng GDP 2018 vượt chỉ tiêu Quốc hội là tín hiệu tích cực, nhưng tính bền vững chưa vững chắc khi nguồn lực tăng trưởng phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Quy mô xuất nhập khẩu khoảng 200% GDP, cho thấy tăng trưởng dựa vào nhu cầu thế giới nhưng nguồn lực đáp ứng nhu cầu (phục vụ sản xuất của khối FDI) lại nhập từ bên ngoài. Do đó, ông Hải đề nghị cần có giải pháp tích cực trong thời gian tới.

Áp lực dồn đẩy lạm phát sang năm 2019? - Ảnh 2.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải

Cùng với đó, theo đại biểu tỉnh Tiền Giang, Chính phủ cần tăng dự báo tình hình, nhất là trước thời cơ và thách thức từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung; như việc chuyển dịch hàng Trung Quốc và tỷ giá sẽ tránh được những thiệt hại cho xuất khẩu, tránh thực trạng được mùa mất giá nông sản như vừa qua…

Trước đó, tại phiên thảo luận ngày 26/10, đại biểu Nguyễn Thị Xuân Thu (đoàn Khánh Hoà) nhấn mạnh, Chính phủ đã kiên định với các mục tiêu đề ra từ đầu nhiệm kỳ đó là ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Sự nỗ lực của Chính phủ trong chỉ đạo điều hành, nỗ lực quyết tâm của doanh nghiệp và nhân dân cả nước làm tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2018 có chuyển biến tích cực. Con số 12/12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch ngân sách của Quốc hội giao là rất ấn tượng, vì đây là năm đầu tiên trong nhiều năm đạt kết quả này, bà Thu đánh giá.

Áp lực dồn đẩy lạm phát sang năm 2019? - Ảnh 3.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Xuân Thu

Bình quân 3 năm 2016 – 2018 tăng so với kế hoạch giao 5 năm như chỉ tiêu tăng trưởng GDP, chỉ tiêu giá tiêu dùng CPI, thu ngân sách tăng, bội chi ngân sách nhà nước giảm, nợ công giảm mạnh. Đặc biệt dự trữ ngoại hối nhà nước đạt kỷ lục trên 60 tỷ USD.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Xuân Thu cũng chỉ ra nhiều mặt hạn chế, tồn tại, trong đó có vấn đề chậm tiến độ trong đầu tư công, tình trạng được mùa mất giá vẫn tiếp tục tái diễn…/.

Bộ Tài chính công khai lấy ý kiến dự toán ngân sách nhà nước năm 2019

Thực hiện quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính đã công khai dự thảo dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) trình Quốc hội trên cơ sở các báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 để xin ý kiến rộng rãi. Báo cáo nhằm cung cấp các thông tin về ngân sách nhà nước đến các tổ chức, cá nhân một cách kịp thời, tạo điều kiện cho việc tham gia, góp ý và giám sát quá trình lập dự toán, phân bổ ngân sách nhà nước năm 2019.

Bản báo cáo Bộ Tài chính công khai gồm 4 phần: Đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018; Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019; Kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm 2019-2021; Phụ lục số liệu về ngân sách nhà nước thực hiện năm 2018 và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019.

Bộ Tài chính công khai lấy ý kiến dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 - Ảnh 1.
Dự thảo dự toán ngân sách nhà nước trình Quốc hội đang được Bộ Tài chính công khai lấy ý kiến có đưa dự toán tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2019 khoảng 1.411,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so ước thực hiện năm 2018.

Theo đó, dự toán NSNN năm 2019 được xây dựng trên cơ sở dự kiến tăng trưởng kinh tế 6,6-6,8%; giá trị GDP dự kiến khoảng 6,17 triệu tỷ đồng; giá dầu thô khoảng 65 USD/thùng.

Trên cơ sở đánh giá thu NSNN năm 2018, dự kiến các chỉ tiêu vĩ mô năm 2019, đồng thời có tính đến yếu tố tác động điều chỉnh chính sách thu, dự toán tổng thu cân đối NSNN năm 2019 khoảng 1.411,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so ước thực hiện năm 2018. Tỷ lệ huy động vào NSNN khoảng 23%GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 20%GDP.

Cụ thể, dự toán thu nội địa 1.173,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,2% tổng dự toán thu NSNN, không kể các khoản thu không ổn định và không phải đặc trưng của sản xuất – kinh doanh trong nước (thu tiền sử dụng đất, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, thu từ bán bớt phần vốn Nhà nước tại một số doanh nghiệp, thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu chi Ngân hàng nhà nước), thì dự kiến khoảng 945 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với ước thực hiện năm 2018, là mức tích cực so với tăng trưởng kinh tế 6,6-6,8% và cao hơn tốc độ tăng thu thuế, phí vài năm trở lại đây (năm 2016 tăng 11,4%, năm 2017 tăng 8,9%).

Dự toán thu dầu thô: 44,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,2% tổng dự toán thu NSNN, trên cơ sở sản lượng dầu khai thác là 10,43 triệu tấn, giá dự toán 65 USD/thùng.

Dự toán thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 189,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,4% tổng dự toán thu NSNN. Dự toán thu viện trợ 4 nghìn tỷ đồng.

Bội chi NSNN năm 2019 là 222 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,6% GDP. Đến hết năm 2019, dự kiến nợ công bằng khoảng 61,3%GDP, nợ Chính phủ bằng khoảng 52,2% GDP, nợ nước ngoài quốc gia bằng khoảng 49,9% GDP.

Với mức thu và bội chi NSNN như trên, dự kiến tổng chi cân đối NSNN năm 2019 là 1.633,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so dự toán năm 2018.

Dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ chủ yếu như: Chi đầu tư phát triển: 429,3 nghìn tỷ đồng, bằng 26,3% tổng chi NSNN, tăng 7,4% so dự toán năm 2018. Chi trả nợ lãi 124,8 nghìn tỷ đồng, bằng 7,6% tổng chi NSNN, tăng 11% so với dự toán năm 2018. Chi viện trợ 1,3 nghìn tỷ đồng, bằng với dự toán năm 2018.

Chi thường xuyên (bao gồm cả chi tạo nguồn cải cách tiền lương và tinh giản biên chế) 1042,8 nghìn tỷ đồng, bằng 63,8% tổng chi NSNN, tăng 6,8% dự toán năm 2018. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 tỷ đồng, bằng dự toán năm 2018.

Dự phòng NSNN 33,8 nghìn tỷ đồng, bằng 2,1% tổng chi NSNN, trong đó dự phòng NSTW là 16 nghìn tỷ đồng, dự phòng NSĐP là 17,8 nghìn tỷ đồng; đảm bảo mức tối thiểu theo Luật NSNN.

9 nhóm giải pháp thực hiện dự toán NSNN năm 2019

Dự thảo dự toán NSNN trình Quốc hội cũng đưa ra 9 nhóm giải pháp để có thể hoàn thành dự toán đưa ra.

Một là, tiếp tục thực hiện quyết liệt Đề án cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Hai là, điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.

Ba là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng nhằm thúc đẩy tăng trưởng cao và bền vững, tạo nguồn thu ngân sách ổn định, vững chắc.

Bốn là, tiếp tục quán triệt quan điểm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, phù hợp khả năng cân đối nguồn lực ngay từ khâu xác định nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm cần thực hiện năm 2019 và kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm 2019-2021. Xây dựng và triển khai dự toán NSNN gắn với chiến lược và định hướng phát triển trong từng thời kỳ, đảm bảo tính bền vững của NSNN, xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từng ngành, lĩnh vực.

Năm là, kiên định thực hiện quản lý giá theo nguyên tắc thị trường, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Sáu là, tiếp tục phát triển đồng bộ, vận hành thông suốt thị trường tài chính và dịch vụ tài chính.

Bảy là, tăng cường quản lý tài chính doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cấu trúc, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Tám là, đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công lập, giá dịch vụ công.

Chín là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.